Hotline : Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Kinh doanh xe mô tô nhập khẩu có phải nộp thuế TTĐB?

Thứ ba, 10-01-2018 | 18:38:00 PM GMT+7 Bản in
(Chinhphu.vn) – Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh xe mô tô nhập khẩu (thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt), nếu là đơn vị trực tiếp nhập về để bán thì thuộc đối tượng kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi bán ra.

Công ty của bà Bích Ngọc (TPHCM) kinh doanh xe mô tô nhập khẩu, thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) 20%. Bà Ngọc hỏi, khi Công ty bán hàng cho khách thì có phải kê khai, nộp thêm thuế phần hàng hóa bán ra trên giá chưa có thuế GTGT không?

Ngoài ra, bà Ngọc cũng muốn biết, khi công ty xuất hàng để bán cho các đại lý thì thuế TTĐB cho hàng hóa bán ra cũng áp dụng trên giá xuất bán chưa có thuế GTGT của đại lý và sau này khi đại lý xuất bán thì không phải chịu thuế TTĐB nữa có đúng không?

Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 4 Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TTĐB và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TTĐB quy định:

“1. Người nộp thuế TTĐB là tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB, bao gồm:

1.1. Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã.

1.2. Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác.

1.3. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật Đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.

1.4. Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu…”.

Căn cứ Khoản 1, Điều 2 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TTĐB quy định giá tính thuế TTĐB như sau:

“Giá tính thuế TTĐB của hàng hóa, dịch vụ là giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế TTĐB, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế GTGT, được xác định cụ thể như sau:

1. Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa nhập khẩu là giá do cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra. Trường hợp giá bán của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường thì cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:

Giá tính thuế TTĐB = Giá bán chưa có thuế GTGT - Thuế Bảo vệ môi trường (nếu có)/1 + Thuế suất thuế TTĐB

Trong đó: Giá bán chưa có thuế GTGT được xác định theo quy định của pháp luật về thuế GTGT, thuế bảo vệ môi trường xác định theo quy định của pháp luật về thuế bảo vệ môi trường…

b) Trường hợp hàng hóa chịu thuế TTĐB được bán cho các cơ sở kinh doanh thương mại là cơ sở có quan hệ công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hoặc cơ sở kinh doanh thương mại là cơ sở có mối quan hệ liên kết thì giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB không được thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân trong tháng của các cơ sở kinh doanh thương mại mua trực tiếp của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu bán ra.

Trường hợp cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu thành lập nhiều cơ sở thương mại trung gian có quan hệ công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ hoặc có mối quan hệ liên kết thì giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB không được thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân trong tháng của các cơ sở thương mại này bán cho cơ sở kinh doanh thương mại không có quan hệ công ty mẹ, công ty con, hoặc các công ty con trong cùng công ty mẹ, hoặc có mối quan hệ liên kết với cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu. Riêng mặt hàng xe ôtô giá bán bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại để so sánh là giá bán xe chưa bao gồm các lựa chọn về trang thiết bị, phụ tùng mà cơ sở kinh doanh thương mại lắp đặt thêm theo yêu cầu của khách hàng.

Cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu và cơ sở kinh doanh thương mại có mối quan hệ liên kết theo quy định tại điểm này khi: Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia.

Trường hợp giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB của cơ sở sản xuất, cơ sở nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân của cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá tính thuế TTĐB là giá do cơ quan thuế ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế…”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp công ty của bà Ngọc kinh doanh xe mô tô nhập khẩu (thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB), nếu công ty bà là đơn vị trực tiếp nhập xe mô tô về để bán (là nhà nhập khẩu) thì công ty bà thuộc đối tượng kê khai, nộp thuế TTĐB khi bán ra theo quy định, trong đó giá tính thuế TTĐB khi xuất hàng để bán cho khách hàng (kể cả đại lý) là giá bán chưa có thuế TTĐB, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế GTGT.

Trường hợp công ty bà mua xe mô tô nhập khẩu từ nhà nhập khẩu khác đã kê khai, nộp thuế TTĐB khi bán ra theo quy định, sau đó bán lại cho khách hàng thì không thuộc đối tượng kê khai, nộp thuế TTĐB.

Theo Chinhphu.vn
Ý kiến bạn đọc (0)