Hotline : Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP trong tháng 5/2018

Thứ sáu, 07-06-2018 | 09:16:00 AM GMT+7 Bản in

PHÒNG THƯƠNG MẠI

VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số: 1229 /PTM – VP

Báo cáo tình hình thực hiện

Nghị quyết 35/NQ-CP trong tháng 5/2018

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2018

Kính gửi: THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN XUÂN PHÚC

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trân trọng báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp trong tháng 5 năm 2018 như sau:

I. TÌNH HÌNH TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ DOANH NGHIỆP THEO NGHỊ QUYẾT 35/NQ-CP CỦA CÁC BỘ, NGÀNH TRONG THÁNG 5

  1. Tình hình trả lời các kiến nghị do Văn phòng Chính phủ tập hợp

Trong tháng 4/2018, VCCI nhận được 27 văn bản trả lời kiến nghị doanh nghiệp của các bộ, ngành, địa phương. Các văn bản này đã được VCCI đăng tải đầy đủ trên Website của VCCI như quy định tại Nghị quyết 35. Các văn bản trả lời kiến nghị doanh nghiệp VCCI nhận được trong tháng 5/2018 có nội dung liên quan đến các lĩnh vực cụ thể như sau:

1.1. Bộ Tài Chính

Bộ Tài chính có 3 công văn trả lời kiến nghị của doanh nghiệp hoặc với các nội dung: hướng dẫn xử lý chênh lêch thu chi từ hoạt động dịch vụ khi quyết toán thời điểm chính thức chuyển sang công ty cổ phần; quy định của pháp luật về chức danh trưởng phòng kế toán; chỉ đạo cục thuế Đắk Lắk giải quyết kiến nghị của công ty Hiệp Phúc về đơn giá tiền thuê đất

1.2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 11 văn bản trả lời kiến nghị doanh nghiệp với nội dung đa số về giải thích các quy định của pháp luật về đầu thầu (8/11 văn bản) như: quy định với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu; quy định về tỷ lệ vốn nhà nước trong dự án để xác định có thuộc phạm vi điều chỉnh của L uật đấu thầu hay không? quy định của pháp luật đấu thầu về ban quản lý dự án chuyên nghiệp; quy định vè danh mục hàng hóa trong hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa qua mạng;… Các nội dung khác trả lời doanh nghiệp là: quy định của Luật Đầu tư về tiến độ thực hiện dự án; việc tăng vốn bằng cách chuyển khoản vay của công ty con với công ty mẹ; hướng dẫn thủ tục cần thiết bổ sung quy hoạch cho dự án đầu tư nhóm A sử dụng vốn ngoài ngân sách theo quy định của Luật Quy hoạch.

1.3. Bộ Giao thông Vận tải

Bộ Giao thông Vận tải có 2 văn bản giải quyết kiến nghị của Hiệp hội Taxi Hà Nội và Hiệp hội Taxi TP Hồ  Chí Minh đề xuất điều chỉnh một số quy định trong hoạt động kinh doanh vận tải khách bằng xe taxi, trong đó:

- Đề nghị các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Y Tế phối hợp giải quyết 3 kiến nghị do liên quan đến sủa đổi các Thông tư thuộc thẩm quyền của các Bộ trên về nội dung: điều chỉnh chu kỳ kiểm định Taximet từ 12 tháng lên 24 tháng; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp taxiđăng ký Giấy phép sử dụng tần số với thời hạn 12-36 tháng; điều chỉnh thời hạn giấy khám sức khỏe của người lái xe từ 6 tháng lên 12 tháng.

- Giao các đơn vị thuộc Bộ đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ GTVt về các nội dung: quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; thời gian nghỉ giữa 2 lần lái xe liên tiếp trong hoạt động kinh doanh vận tải bằng taxi; thời gian làm việc của lái xe.

1.4. Bộ Xây dựng

Bộ Xây dựng có 3 văn bản trả lời kiến nghị của doanh nghiệp về các nội dung: giải thích nội dung cấp đất dùng để xác định chi phí cho công tác đóng, ép cọc trong định mức dự toán xây dựng công trình công; việc sử dụng chi phí dự phòng cho hạng mục bổ sung trong trường hợp công trình đã nghiệm thu; quy định của pháp luật về Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, khu vực.

1.5. Bộ Công Thương

Bộ Công Thương có 3 văn bản trả lời kiến nghị của doanh nghiệp về các nội dung: quyền ủy thác mua bán hàng hóa và chuyển khẩu của doanh nghiệp FDI; việc chứng minh nguyên liệu có xuất xứ Việt Nam; kiến nghị về việc xây dựng cây xăng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.6. Một số bộ, ngành, địa phương khác:

- Cục Việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có văn bản trả lời kiến nghị của doanh nghiệp về văn bản và thời hạn chấp thuận vị trí công việc sử dụng người lao động nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 40/2016/ TT- BLĐTBXH ngày 25/10/2016.

- Bộ Khoa học và Công nghệ có văn bản trả lời kiến nghị của Công ty cổ phần đầu tư công nghệ Việt Nam – Đức chấp thuận hủy bỏ hiệu lực Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 248484 bảo hộ nhãn hiệu “ ROMMELSBACHER” đã cấp cho bà Nguyễn Thị Khuyên.

- Bộ Y tế có văn bản trả lời kiến nghị của doanh nghiệp về thời hạn và nội dung khám sức khỏe cho nhân viên trực tiếp tham gia sản xuất của công ty chuyên cung cấp suất ăn công nghiệp cho các công ty, xí nghiệp.

- Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam có văn bản trả lời kiến nghị của công ty Long Trang về nội dung đề nghị thanh toán đầy đủ khối lượng đã nghiệm thu công trình đường ô tô xã Trà Linh, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

- Ủy ban nhân dân TP Hải Phòng trả lời kiến nghị của doanh nghiệp về việc hỗ trợ Dự án sản xuất thanh củi trấu thông qua Chương trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

1.7. Trả lời kiến nghị VCCI tập hợp gửi Văn phòng Chính phủ:

Trong tháng 5/2018, VCCI nhận được 06 văn bản trả lời 06 kiến nghị của doanh nghiệp. Các văn bản trả lời kiến nghị VCCI nhận được đều được đăng tải trên Website của VCCI và chuyển tải đến doanh nghiệp kiến nghị.

- Công văn số 1458/LS-PL ngày 4/5/2018 của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao về việc giải đáp kiến nghị của Hội đồng tư vấn du lịch về một số chính sách liên quan đến thị thực cho khách quốc tến đến Việt Nam. Các kiến nghị này đã được Chính phủ chấp nhận và quy định tại Nghị quyết 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo. (Kiến nghị số 4, Báo cáo tháng 2/2018 số 0477/PTM-VP ngày 19/3/2018 của VCCI).

- Công văn số 2448/TCHQ-PC ngày 7/5/2018 của Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính trả lời các kiến nghị:

+ Trả lời kiến nghị của Công ty cổ phần que hàn Việt Đức về hoàn thuế tự về thép đã nộp năm 2016. Tổng cục Hải quan khẳng định lo hàng của công ty không đủ điều kiện để hưởng miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ nên cơ quan hải quan không đủ cơ sở để hoàn trả tiền thuế tự vệ. (Kiến nghị số 6, phụ lục 1, Báo cáo tháng 3/2018 số  0707/PTM-VP ngày 12/4/2018 của VCCI).

+ Trả lời kiến nghị của Công ty TNHH quốc tế CY Tín và kiến nghị của bà Lê Hoàng Diệp Thảo do Văn phòng Chính phủ chuyển Bộ Tài chính trong tháng 2/2018  được nêu trong Phụ lục 2, Báo cáo tháng 3/2018 số 0707/PTM-VP ngày 12/4/2018 của VCCI.

- Công văn số 4096/BCT-PVTM ngày 24/5/2018 của Bộ Công Thương trả lời kiến nghị của Công ty cổ phần que hàn Việt Đức về hoàn thuế tự về thép đã nộp năm 2016. Bộ Công Thương khẳng định việc Tổng cục Hải quan không hoàn tra tiền thuế tự vệ cho công ty Việt Đức là đúng quy định của pháp luật nhưng đồng thời Bộ Công Thương vẫn đề nghị do thuế tự vệ là thực tiễn mới được áp dụng tại Việt Nam nên các thủ tục thu, nộp và hoàn thuế tự về chưa được nhiều doanh nghiệp biết tới. Bên cạnh đó, trong quá trình thực thi đã phát sinh ra một số vấn đề pháp lý do nhiều quy định chưa phù hợp hoàn toàn với thực tế.  Do đó, Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính xem xét lại hồ sơ xin hoàn thuế của công ty Việt Đức và nếu có thể thì có phương án giải quyết cho công ty. (Kiến nghị số 6, phụ lục 1, Báo cáo tháng 3/2018 số  0707/PTM-VP ngày 12/4/2018 của VCCI).

- Công văn số 2307/BTNMT-PC ngày 9/5/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời kiến nghị của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Nghệ An về việc bãi bỏ một số loại thuế, phí trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường (Kiến nghị số 4, Phụ lục 1, Báo cáo tháng 1/2018 số 0228/PTM-VP ngày 9/2/2018 của VCCI).

- Công văn số 4987/BGTVT-TC ngày 14/5/2018 của Bộ Giao thông Vận tải trả lời kiến nghị của Công ty cổ phần đầu tư Đèo Cả đối với một số nội dung dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 35/2016/TT-BGTVT ngày 15/11/2016. (Kiến nghị số 3, Phụ lục 1, Báo cáo tháng 2/2018 số 0477/PTM-VP ngày 19/3/2018 của VCCI).

- Công văn số 3693/BNN-QLDN ngày 17/5/2018  của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời kiến nghị của Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về việc góp ý dự thảo Quy chế quản lý và sử dụng thương hiệu quốc gia gaoj Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiếp thu góp ý vào Quy chế chính thức và đã ban hành ngày 2/5/2018. (Kiến nghị số 8, phụ lục 1, Báo cáo tháng 3/2018 số  0707/PTM-VP ngày 12/4/2018 của VCCI).

+ Công văn của Bộ NN và PTNN cũng nêu kết quả trả lời kiến nghị của Bộ đối với các công ty Intergration Point Malaysia và Công ty Galan Co.LTD do Văn phòng Chính phủ chuyển trong tháng 2 và tháng 3.

  1. Các kiến nghị Văn phòng Chính phủ thông báo cho VCCI

- Tháng 4/2018, VCCI nhận được 36  kiến nghị do Văn phòng Chính phủ tiếp nhận qua hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ. Đến hết 31/5/2018, đã có 27 kiến nghị được các bộ, ngành, địa phương trả lời. Còn 9 kiến nghị chưa được trả lời (có danh sách kèm theo tại Phụ lục 2). Tất cả các kiến nghị đều đã quá hạn trả lời.

- Tháng 5/2018 VCCI nhận được 62 kiến nghị của doanh nghiệp do Văn phòng Chính phủ tiếp nhận qua hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ. Đến hết 31/5/2018, đã có 18  kiến nghị được các bộ, ngành, địa phương trả lời. Còn 44 kiến nghị chưa được trả lời. (có danh sách kèm theo tại Phụ lục 3), trong đó có một số kiến nghị đã quá hạn trả lời.

II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 35/NQ-CP CỦA VCCI

Trong tháng 5/2018, VCCI đã triển khai các nhiệm vụ được giao như sau:

1. Triển khai các hoạt động góp phần cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; Tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; Bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp; Giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp :

- Trong tháng, VCCI hoàn thành góp ý và tiếp tục góp ý 17 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chuyển giao công nghệ (2017) và Luật chuyển giao công nghệ (2017), Luật Cạnh tranh sửa đổi, Nghị định về Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, Nghị định quy định về quản lý hoạt động đường thủy nội địa, Thông tư xác định giá khởi điểm để đấu giá cho thuê, chuyển nhượng có thời hạn khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông và thủy lợi, Thông tư quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng để đầu tư ra nước ngoài,… Ngoài ra, đã góp ý 05 dự thảo báo cáo và đề án gồm: Báo cáo Giải pháp thu hút đầu tư khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Báo cáo hỗ trợ Bộ Công thương ban hành Thông tư về định mức tiêu thụ năng lượng dành cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản, Đề án Hội nghị và các báo cáo chính của Hội nghị Thủ tướng về cơ chế một cửa và kiểm tra chuyên ngành do Bộ Tài chính, Tổng Cục Hải quan chủ trì, Phương án đơn giản hóa chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp, Phương án cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương tổ chức hội thảo “Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP): Các cam kết cơ bản – Những lưu ý cho doanh nghiệp” vào ngày 22/5/2018 tại Hà Nội, thu hút hơn 200 đại biểu tham dự. Hội thảo đã đưa ra những nhận định, đánh giá sâu sát về mặt thuận lợi, khó khăn doanh nghiệp Việt phải đối mặt khi hội nhập quốc tế. Cụ thể, điểm khác biệt chính về nội dung giữa CPTPP và TPP nằm ở các cam kết trì hoãn thực thi về đầu tư, sở hữu trí tuệ, dịch vụ tài chính, viễn thông, mua sắm chính phủ, dịch vụ qua biên giới, môi trường...Trong đó, về đầu tư và mua sắm chính phủ, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư (ISDS) không điều chỉnh hợp đồng đầu tư và chấp thuận đầu tư. CPTPP nâng thời gian tạm hoãn việc đàm phán mở rộng phạm vi trong vòng 3 năm lên 5 năm. Đối với sở hữu trí tuệ, có 11 nghĩa vụ được tạm hoãn thực thi, bao gồm: bảo hộ quyền tác giả, bảo hộ dữ liệu thử nghiệm bí mật... Về dịch vụ tài chính, CPTPP không áp dụng cơ chế ISDS đối với vi phạm nghĩa vụ về tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. Nghĩa vụ cho phép doanh nghiệp khiếu nại quyết định của cơ quan quản lý trong lĩnh vực truyền thông cũng được tạm hoãn... Việc tạm hoãn thực hiện một số nghĩa vụ phức tạp trong TPP, sẽ giúp cho Việt Nam và các nước có thêm thời gian để điều chỉnh và thích ứng kịp thời. Tham gia CPTPP, thách thức lớn nhất của doanh nghiệp là làm thế nào vừa tuân thủ Hiệp định, vừa tận dụng các cơ hội CPTPP đem lại, tránh bỏ lỡ 70 - 80% cơ hội ưu đãi thuế quan từ các FTA như hiện nay. Với vai trò là đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, trong quá trình đàm phán TPP hơn 5 năm và sau đó là một năm đàm phán CPTPP, VCCI là đầu mối tích cực và hiệu quả trong công tác trao đổi thông tin, tập hợp ý kiến doanh nghiệp, xây dựng các khuyến nghị với Đảng, Nhà nước và Đoàn đàm phán các phương án đàm phán thích hợp.

- Tổ chức Diễn đàn “Doanh nghiệp trong nền kinh tế số” và Lễ Công bố Báo cáo doanh nghiệp Việt Nam 2017/2018. Diễn đàn đã thu hút hơn 200 đại biểu từ các cơ quan, Bộ, ngành, doanh nghiệp, chuyên gia trong và ngoài nước. Các chuyên gia kinh tế tham dự Diễn đàn nhận định: để các doanh nghiệp có thể phát triển trong nền kinh tế số, bên cạnh điều kiện cần là việc thiết lập nền tảng cho nền kinh tế số thông qua việc xây dựng và phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng, các cơ sở dữ liệu nền tảng, dịch vụ kết nối nền tảng liên thông, các nền tảng thanh toán điện tử hay xác thực…, nhận thức và mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp là điều kiện đủ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong thời đại công nghệ thông tin. Theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm nay, chất lượng doanh nghiệp năm 2017 đã có cải thiện nhưng không đáng kể. Khoảng cách phát triển giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp Nhà nước đã được thu hẹp dần. Môi trường kinh doanh thực sự đã có những điều chỉnh góp phần đưa khu vực tư nhân xích lại gần hơn với các khu vực doanh nghiệp khác. Báo cáo cũng đưa ra những đánh giá về sự phát triển của doanh nghiệp trong những lĩnh vực ứng dụng kinh tế số như: dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông, thương mại điện tử...  Nền kinh tế số với những mô hình, phương thức kinh doanh mới cũng tạo ra những thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam về thị trường, an ninh, bảo mật, triển khai thương mại điện tử và môi trường pháp lý phù hợp với nền kinh tế mới. Đặc biệt, thiếu hụt nhân lực công nghệ thông tin là một trong những thách thức lớn đối với nền kinh tế số Việt Nam.

- Tổ chức Diễn đàn Bất động sản 2018 với chủ đề “Thị trường bất động sản – Tác động từ chính sách”. Diễn đàn tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến chính sách, trong đó có 3 vấn đề lớn gồm: tính nhất quán trong toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến bất động sản đang có vấn đề, cách xây dựng pháp luật còn nhiều tính bất hợp lý, chưa có nghiên cứu về tài chính bất động sản nào tại nước ta hiện nay. Diễn đàn đánh giá giai đoạn 2018- 2020, thị trường bất động sản sẽ tiếp tục có sự điều chỉnh lớn để giải quyết tình trạng lệch pha cung - cầu hiện nay, giúp thị trường trở lại hướng phát triển lành mạnh, bền vững hơn. Tuy nhiên, hiện còn nhiều hạn chế trong phát triển thị trường bất động sản, nhất là vấn đề tài chính bất động sản. Quỹ tiết kiệm nhà ở không phát triển được chủ yếu do thiếu vốn mồi, cơ chế, cách làm chưa phù hợp với thị trường. Bên cạnh đó, hệ thống các định chế tài chính chưa đa dạng, chưa có hoặc chưa phát triển các định chế tài chính như quỹ tín thác đầu tư, cơ quan cho vay thế chấp nhà ở… Đây là những rào cản khiến cho thị trường tài chính nhà ở chưa thể phát triển. Ngoài ra, việc thiếu tính minh bạch, khó tiếp cận quỹ đất để phát triển và quy trình đấu giá bất động sản với nhà đầu tư nước ngoài cũng như quy trình chính sách còn rườm rà khiến quá trình tiếp cận, khởi công dự án của nhà đầu tư bất động sản, đặc biệt đối với các nhà đầu tư ngoài bị cản trở. Một số giải pháp được đưa ra tại Diễn đàn như: cần xây dựng một quỹ tiết kiệm nhà ở chung (như Thái Lan, Singapore đã làm thành công), phát triển thị trường vốn tạo nguồn vốn trung dài hạn và cân đối cấu trúc thị trường tài chính, chương trình nhà ở xã hội, tăng cường vai trò của Hiệp hội ngành nghề, chú trọng định hướng thu hút đầu tư FDI vào lĩnh vực BĐS mục tiêu như cơ sở hạ tầng thiết yếu, hạ tầng giao thông, triển khai tốt Nghị định về hình thức đầu tư PPP…

 - Tiếp tục phối hợp với các địa phương tổ chức các hoạt động hậu công bố PCI: tổ chức hội thảo chẩn đoán PCI tại tỉnh Bạc Liêu và Tây Ninh, hội thảo “Phân tích Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2017 vùng Đồng bằng sông Cửu Long và những bài học kinh nghiệm trong quản lý và cải cách”.

- Tiếp tục thực hiện Chương trình Hành động Thực hiện Liêm chính trong kinh doanh: tổ chức 03 khóa đào tạo tập huấn “Hướng dẫn tiêu chuẩn ISO 37001:2016 - Hệ thống Quản lý Chống hối lộ” tại Đà Nẵng, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. ISO 37001 là bộ tiêu chuẩn quốc tế mang tính tự nguyện, có thể áp dụng cho mọi tổ chức/doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, trong khu vực công hay khu vực tư ở bất cứ quốc gia nào. ISO 37001:2016 nếu được tích hợp vào hệ thống quản trị giúp hạn chế những nguy cơ, rủi ro liên quan tới hối lộ, tham nhũng và từng bước thiết lập văn hóa kinh doanh tuân thủ. 

- Triển khai một số hoạt động khác như: Tổ chức Hội thảo “Cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo”; Phối hợp với Cục Hải quan thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị “Bàn giải pháp tăng cường mối quan hệ đối tác hải quan – doanh nghiệp”...

  1. Triển khai hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư và các chương trình, dự án hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp:

Về công tác xúc tiến thương mại, đầu tư:

- Phối hợp với Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam tổ chức Hội thảo xúc tiến đầu tư Bang Assam, Ấn Độ tại Hà Nội, thu hút hơn 100 doanh nghiệp, nhà đầu tư hai nước tham dự. Tại Hội thảo, Thống đốc Bang Assam Ấn Độ đã giới thiệu nhiều lĩnh vực mời gọi các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh với chế độ "trải thảm ưu đãi" ở các ngành nghề nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, thương mại, năng lượng... Assam là một bang lớn thuộc khu vực Đông Bắc Ấn Độ, trong những năm gần đây đóng vai trò trung tâm trong hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ và các quốc gia ASEAN.

- Phối hợp với Văn phòng Thương mại Công nghiệp Seoul, Hàn Quốc tổ chức Hội thảo gặp gỡ doanh nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại Hà Nội. Tham dự hội nghị có trên 60 doanh nghiệp hai nước trong các lĩnh vực: thuốc thú y, mỹ phẩm chăm sóc da và tóc, thời trang, sản xuất vật dụng sắt thép, kiến trúc và nội thất, bất động sản, máy móc thiết bị chữa cháy, máy móc công nghiệp và các loại máy móc khác... Bên cạnh các lĩnh vực truyền thống như nông nghiệp công nghệ cao, thủy sản, các DNVVN Hàn Quốc đem tới Việt Nam những lĩnh vực còn tương đối mới như mỹ phẩm, thiết bị thẩm mỹ... hứa hẹn sẽ mở ra tiềm năng hợp tác, nâng cao kim ngạch thương mại giữa hai nước. Hiện nay, Hàn Quốc đang tập trung vào chiến lược "Phương Nam mới", trong đó Việt Nam là một trong những trọng tâm của chính sách này.

- Tổ chức kết nối kinh doanh (B2B meeting) cho doanh nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tại Triển lãm quốc tế công nghệ môi trường và năng lượng (Entech Vietnam 2018) với sự tham gia của 120 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Với chủ đề “Công nghệ và sản phẩm xanh - Hành động cho tương lai”, các doanh nghiệp Hàn Quốc tham dự Triển lãm với các gian hàng trưng bày các hệ thống tái xử dụng nước thải, hệ thống kiểm soát nước thải từ xa, các thiết bị đo lường chất lượng nước tự động, hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt cho các khu dân cư; các linh phụ kiện cho ngành xử lý nước thải; hệ thống tách dầu từ nước tiên tiến; các loại công nghệ đèn LED hiệu suất cao cho tiêu dùng và cho hệ thống chiếu s&aa